Hiển thị các bài đăng có nhãn dieu-tri-benh-tri. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dieu-tri-benh-tri. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

THUỐC CHỮA BỆNH TRĨ HIỆU QUẢ NHẤT

Trong thời gian qua Đề án Nghiên cứu và ứng dụng đông y trong điều trị bệnh trĩ nhận được rất nhiều thư của các bệnh nhân từ khắp mọi miền đất nước gửi về hỏi thông tin bệnh trĩ: nguyên nhân bị bệnh trĩ? Triệu chứng của bệnh trĩ? Chữa bệnh trĩ ở đâu tốt? Thuốc nào chữa bệnh trĩ hiệu quả nhất?... và còn nhiều nội dung khác nữa. Để cung cấp thông tin cũng như giải đáp các thắc mắc của quý vị chúng tôi xin giới thiệu bài viết của Lương dược Phúc Long – Phó chủ tịch Đề án Nghiên cứu và ứng dụng đông y trong điều trị bệnh trĩ để các bạn tham khảo.
Benh tri, tri benh tri, chua benh tri


Các phương pháp điều trị bệnh trĩ trong giai đoạn hiện nay

Theo thống kê của ngành y tế thì có đến 60% dân số Việt Nam mắc bệnh trĩ, một trong những tỉ lệ mắc cao nhất thế giới. Vậy đâu là nguyên nhân mà người Việt Nam mắc trĩ nhiều như vậy? Các phương pháp chữa bệnh trĩ hiện nay có ưu và nhược điểm gì?


1. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây ra bệnh trĩ

- Táo bón: Việc gắng sức khi rặn để tống phân ra có thể tạo sức ép lên các tĩnh mạch bị dãn và dẫn đến trĩ.

- Thói quen ăn uống không tốt như ăn ít chất xơ và rau quả, ăn nhiều gia vị (tiêu, ớt), uống nhiều rượu.
- Di truyền: Gia đình, dòng họ có nhiều người bị trĩ.
- Thai kỳ, sinh đẻ: Sức ép quá mạnh từ bào thai có thể làm trầm trọng thêm bệnh trĩ.

2. Các mức độ của trĩ

Trĩ có 3 mức độ:

- Nhẹ: Đi ngoài đau kèm ra máu, búi trĩ không sa.
- Vừa: Đi ngoài đau, kèm chảy máu và sa búi trĩ nhưng tự co lên được.
- Nặng: Búi trĩ sa thường xuyên, cần phải dùng tay đẩy vào. Bệnh nhân cảm thấy không thoải mái khi ngồi, thậm chí chảy máu.
3. Các phương pháp điều trị bệnh trĩ hiện nay, ưu và nhược điểm của từng phương pháp

3.1. Điều trị nội khoa:

- Vệ sinh tại chỗ tốt bằng phương pháp ngâm nước ấm 2 – 3 lần/ngày, mỗi lần 15 phút.


- Thuốc uống: gồm các thuốc có tác nhân trợ tĩnh mạch, dẫn xuất từ flavonoid. Cơ chế tác động của các thuốc này là làm gia tăng trương lực tĩnh mạch, bảo vệ vi tuần hoàn, giảm phù nề nhờ tác động kháng viêm tại chỗ, chống nhiễm trùng và chống tắc mạch.


- Thuốc tại chỗ: gồm các loại thuốc mỡ (pommade) và đạn dược (suppositoire) bao gồm các tác nhân kháng viêm, vô cảm tại chỗ và dẫn xuất trợ tĩnh mạch.
 

Ưu điểm của phương pháp điều trị nội khoa: Tác dụng nhanh làm giảm hẳn triệu chứng, các thuốc điều trị rất dễ tìm trên thị trường


Nhược điểm: trị nội khoa chỉ có tác dụng chữa triệu chứng hay điều trị những đợt bị cấp như chảy máu, đau rát, sa… mà khó có thể điều trị khỏi bệnh được.


3.2. Điều trị bằng thủ thuật:

a-Chích xơ:
 Chích xơ được chỉ định trong trĩ độ 1 và trĩ độ 2

Là phương pháp dễ thực hiện, đơn giản, nhanh chóng và an toàn. Tuy nhiên, người thực hiện thủ thuật phải là bác sĩ có kinh nghiệm với kỹ thuật vững vàng mới cho kết quả tốt và tránh được các biến chứng. Mục đích chính của chích xơ là giảm lưu lượng máu đến búi trĩ, tạo mô sẹo xơ dính vào lớp cơ dưới lớp dưới niêm mạc giúp giảm triệu chứng chảy máu.


Chích xơ được chỉ định trong trĩ độ 1 và trĩ độ 2,


Trong kỹ thuật chích xơ cần chú ý một số việc:


- Sử dụng đúng loại kim: Kim dài, có ngạnh chặn ở gần đầu kim để tránh xuyên thấu sâu, nếu có kim gập góc thì rất tốt, ống chích chuyên dùng. Thuốc chích xơ thường dùng hiện nay là dầu phenol và polidocanol.


-Vị trí chích là ở gốc búi trĩ, nằm trên đường lược và ở đáy búi trĩ. Khối lượng thuốc bơm khoảng 3-5 ml, bơm chậm, trong lúc bơm thuốc nếu thấy chỗ chích đổi màu trắng là chích vào lớp thượng bì, ngừng chích ngay vì sẽ gây biến chứng loét hoại tử sau chích. Vị trí chích thông thường là ở 4giờ , 7giờ và 11giờ.


-Biến chứng:


*Chảy máu chỗ chích: nếu phát hiện trong lúc chích dùng gạc đè vào, nếu không giảm dùng dụng cụ thắt trĩ bằng vòng cao su thắt vùng chảy máu.


*Chích vào tuyến tiền liệt: trong trường hợp chích quá sâu ở vị trí 11giờ-1giờ có thể gặp biến chứng bí tiểu, viêm mào tinh và tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, rò hậu môn âm đạo…


b-Thắt trĩ bằng vòng cao su: Thắt trĩ bằng vòng cao su được chỉ định điều trị trĩ nội độ 1 và 2


Thắt trĩ bằng vòng cao su được chỉ định điều trị trĩ nội độ 1 và 2, một số tác giả áp dụng cho cả trĩ nội độ 3 nhưng kết quả giới hạn.


Thắt trĩ bằng vòng cao su đã được thực hiện từ thế kỷ 19 nhưng vì cột búi trĩ chung với cả da quanh hậu môn nên sau thắt rất đau, cho nên không được sử dụng rộng rải. Đến năm 1958 Blaisdell đã thành công với việc chỉ cột búi trĩ không có lẫn da và các mô chung quanh. Barron 1963 đã tạo ra dụng cụ để thắt trĩ với vòng cao su và sau đó với dụng cụ cải tiến của Mc Giveny đã đưa điều trị thắt trĩ với vòng cao su thành một phương pháp điều trị trĩ thành công và được lựa chọn hàng đầu trong các phương pháp điều trị bằng thủ thuật.


Nguyên tắc chính của thắt vòng cao su là giảm lưu lượng máu đến búi trĩ, tạo mô sẹo xơ dính vào lớp cơ dưới lớp dưới niêm mạc, do đó sẽ cố định ống hậu môn đúng với nguyên tắc bảo tồn lớp đệm hậu môn.


c-Quang đông hồng ngoại: Quang đông hồng ngoại được chỉ định với trĩ nội độ 1 và độ 2


Phương thức sử dụng nhiệt điều trị trĩ đã được thực hiện hàng trăm năm nay. Mục tiêu của phương pháp làm đông là làm cho mô bị đông lại bởi tác động của sức nóng, tạo nên sẹo xơ làm giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và cố định trĩ vào ống hậu môn. Với tia Laser, dòng điện cao tần cũng có tác động làm đông như tia hồng ngoại, nhưng sự chính xác về độ sâu xuyên thấu của tác động làm đông của 2 phương pháp này không chính xác bằng tia hồng ngoại với máy quang đông. Sự xuyên thấu mô của tia hồng ngoại được định trước bằng cách điều chỉnh tốc độ của tia và độ hội tụ chính xác trên lớp mô này. Máy quang đông hồng ngoại có lợi là không gây nhiễu các dụng cụ điện tử gắn trên người bệnh như máy điều hòa nhịp tim.

Quang đông hồng ngoại được chỉ định với trĩ nội độ 1 và độ 2. Phương pháp này có ưu điểm là không đau, an toàn, cầm máu rất hiệu quả nhưng có nhược điểm là máy khá đắt và thường phải làm thủ thuật nhiều lần. 

3.3 Phẫu thuật cắt trĩ :
Phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc, Phẫu thuật cắt từng búi trĩ, PT Longo, Khâu treo trĩ bằng tay, Khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler...

1-Nhóm phẫu thuật 1: gồm 2 nhóm phẫu thuật


a-Phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc:


Phẫu thuật Whitehead: nguyên tắc là cắt khoanh niêm mạc và lớp dưới niêm mạc có các búi tĩnh mạch trĩ, sau đó kéo niêm mạc từ trên xuống khâu với da ở hậu môn. Phương pháp này hiện nay hầu như không được sử dụng vì để lại nhiều biến chứng nặng nề như hẹp hậu môn, đại tiện mất tự chủ và rỉ dịch ở hậu môn. Nhưng vì tính chất triệt để của phẫu thuật nên nhiều tác giả vẫn sử dụng nguyên tắc của phẫu thuật này nhưng cải biên lại để làm giảm các biến chứng, ví dụ phẫu thuật Toupet.


b-Phẫu thuật cắt từng búi trĩ:


Nguyên tắc phẫu thuật này là cắt riêng biệt từng búi trĩ một, để lại ở giữa các búi trĩ các mảnh da-niêm mạc (cầu da niêm mạc). Nhóm phẫu thuật này gồm có PT Milligan Morgan (1937), PT Ferguson (1959), PT Parks (1965), PT BV Việt Đức (Nguyễn Đình Hối, 1966).


Nhóm phẫu thuật này gồm2 nhóm chính là:


- Cắt trĩ mở: PT Milligan Morgan , PT Nguyễn Đình Hối
 
- Cắt trĩ kín: PT Ferguson.

Nhóm phẫu thuật này tránh được các biến chứng của nhóm phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc da, nhưng vẫn còn nhược điểm là đau sau mổ, thời gian nằm viện dài, thời gian trở lại lao động muộn và không hiệu quả trong các trường hợp trĩ vòng.


2-Nhóm phẫu thuật 2:


Xuất phát từ các nhược điểm của nhóm phẫu thuật dưới cột Morgagni và các phát hiện mới về sinh bệnh học, từ thập niên 90, dựa trên nguyên tắc bảo tồn khối đệm hậu môn, giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và thu nhỏ thể tích khối trĩ, một số phẫu thuật mới đã ra đời với nguyên tắc treo hậu môn như PT Longo, khâu treo trĩ bằng tay và nguyên tắc thu nhỏ thể tích khối trĩ như PT khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler.


a-PT Longo (1993)
 :Là phẫu thuật sử dụng máy khâu vòng để cắt một khoanh niêm mạc trên đường lược 2-3 cm và khâu vòng bằng máy bấm. Nguyên tắc của phẫu thuật này là cắt và khâu khoanh niêm mạc, nhằm mục đích giảm lưu lượng máu đến đám rối tĩnh mạch trĩ để thu nhỏ thể tích trĩ và treo được đệm hậu môn vào ống hậu môn. Phương pháp này được ưa chuộng vì không đau, thời gian nằm viện ngắn, trả bệnh nhân về lao động sớm, nhược điểm này là chi phí cao, chưa được đánh giá đầy đủ về hiệu quả do thời gian theo dõi còn ngắn. 

b-Khâu treo trĩ bằng tay:


Đây là phương pháp cải biên của phẫu thuật Longo ở các nước đang phát triển do giá thành cao của PT Longo . PT này đã được Ahmed M Hussein, Nguyễn Mạnh Nhâm, Nguyễn Trung Vinh, Nguyễn Trung Tín báo cáo ở các hội nghị. Phương pháp này cũng dựa trên nguyên tắc của phẫu thuật Longo là làm giảm lưu lượng máu đến búi trĩ để thu nhỏ thể tích khối trĩ và treo búi trĩ lên ống hậu môn bằng các mũi khâu tay khâu xếp nếp niêm mạc trên đường lược 2-3 cm. Phương pháp này chỉ mới được báo cáo sau năm 2001.


c-Khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler


Phương pháp này được Kazumasa Morinaga thực hiện lần đầu năm 1995, với một dụng cụ có tên là Moricorn, là một máy gồm một đầu dò siêu âm Doppler gắn liền trong một ống soi hậu môn, qua dụng cụ này tác giả dò tìm 6 động mạch, là những nhánh tận của động mạch trực tràng trên, và các nhánh động mạch này được khâu cột ở vị trí trên đường lược 2cm.


Nguyên tắc của phương pháp này là làm giảm lưu lượng máu đến các búi trĩ, chỉ áp dụng cho trĩ nội độ 2 và 3, ưu điểm của phương pháp này là không đau và bảo tồn được đệm hậu môn.


Cả ba phương pháp này không giải quyết được các trường hợp trĩ nội tắc mạch và các trường hợp có mẫu da thừa lớn.


Chỉ định điều trị:


-Trĩ có thể là bệnh, có thể là triệu chứng của một bệnh khác. Chỉ được phẫu thuật khi là trĩ bệnh . Một sai lầm thường mắc phải là cắt trĩ cho một bệnh nhân bị ung thư trực tràng. Có thể trĩ là triệu chứng của ung thư trực tràng, có thể là ung thư trực tràng xuất hiện trên một bệnh nhân có trĩ đã lâu. Vì vậy, trước khi mổ phải khẳng định không có các thương tổn thực thể khác ở vùng hậu môn trực tràng.

-Trĩ có thể điều trị khỏi bằng nội khoa hay các phương pháp vật lý. Vì vậy, phẫu thuật chỉ nên được xem là phương sách cuối cùng khi các phương pháp kể trên không hiệu quả, bởi vì phẫu thuật can thiệp vào giải phẫu học và sinh lý học bình thường và có thể kèm theo các di chứng nặng nề khó sửa chữa.

-Chỉ định mổ áp dụng cho trĩ nội độ 3, độ 4, trĩ có huyết khối, trĩ vòng sa và trĩ xuất huyết trầm trọng.

* Trĩ nội:
- Độ 1: chích xơ hoặc làm đông bằng nhiệt.
- Độ 2: làm đông bằng nhiệt, thắt bằng dây thun hay cắt trĩ.- Độ3: thắt bằng dây thun hay cắt trĩ.
- Độ 4: cắt trĩ.
- Trĩ sa nghẹt: dùng thuốc điều trị nội khoa và ngâm nước ấm cho đến khi búi trĩ hết phù nề, tại chỗ ổn định, sau đó mới mổ cắt trĩ.

* Trĩ ngoại: Trĩ ngoại không có chỉ định điều trị thủ thuật và phẫu thuật trừ khi có biến chứng nhiễm trùng, lở loét hay tắc mạch tạo thành những cục máu đông nằm trong các búi trĩ. Phẫu thuật điều trị tắc mạch trong cấp cứu là rạch lấy cục máu đông. Ngay sau mổ bệnh nhân cảm thấy dễ chịu và hết đau ngay.


Trên đây là các phương pháp điều trị được áp dụng trong quá khứ và hiện tại. Mỗi phương pháp có những ưu và nhược điểm khác nhau. Việc áp dụng phương pháp nào phụ thuộc vào mức độ bệnh và trình độ chuẩn đoán của Bác sĩ. Thông thường khi phát hiện biểu hiện của bệnh trĩ mọi người thường có những hành động sau đây:

I. Đến điều trị tại các bệnh viện công lập

Khi đến các bệnh viện công lập bệnh nhân có cảm giác yên tâm hơn vì yếu tố tin tưởng vào các Bác sĩ nhà nước vẫn đặt lên hàng đầu. Hiện nay các bệnh viện phần lớn áp dụng phương pháp cắt longo, đốt bằng tia laser. Những phương pháp này có tác dụng ngay tức thời nhưng lại không giải quyết được căn nguyên từ bên trong của bệnh dẫn đến tình trạng bệnh trĩ tái phát.
II. Điều trị tại các phòng khám đa khoa tư nhân

Sau khi điều trị tại các bệnh viện không khỏi người bệnh trở lên hoang mang lo lắng không biết đặt niềm tin vào đâu nữa. Trong khi đó các phòng khám đa khoa tư nhân quảng cáo tràn lan trên các phương tiện thông tin đại chúng với những cam kết như: chữa một lần là khỏi, không tái phát, nếu tái phát hoàn lại tiền, bảo hành 5 năm… Mặc dù có thể chưa tin tưởng nhưng cũng không còn cách nào khác vì bệnh trĩ vẫn ngày đêm hành hạ người bệnh có tâm lí thôi cứ chữa xem sao.

Ưu điểm:
 khi chữa ở phòng khám đa khoa tư nhân: Thái độ phục vụ nhiệt tình, sự trao đổi giữa bác sĩ và người bệnh diễn ra thường xuyên liên tục.

Nhược điểm: vì vẫn là các phương pháp cắt là phổ biến nên tỉ lệ tái phát cao. Chi phí điều trị cao có thể từ 5 đến 20 triệu. Với các phòng khám trang thiết bị không đảm bảo, trình độ bác sĩ hạn chế rất dễ dẫn đến tình trạng nhiễm trùng, với các loại thuốc uống có thể gây tác dụng phụ đặc biệt là hại gan và thận.

III. Dùng thực phẩm chức năng
Sau một loạt các phương pháp điều trị được quảng cáo là công nghệ cao mà bệnh trĩ vẫn không khỏi, tái phát nhanh người bệnh không còn mặn mà với điều trị bằng máy móc nữa mà chuyển sang sử dụng thực phẩm chức năng được quảng cáo nhan nhản trên các phương tiện truyền thông là an toàn và hiệu quả cao

Ưu điểm: dễ mua dễ sử dụng, sản phẩm là những viên nang dùng để uống hằng ngày.


Nhược điểm:
 Tình trạng bệnh gần như không thuyên giảm hoặc giảm không đáng kể, chi phí điều trị cao, thời gian điều trị kéo dài từ 3 đến 9 tháng.
Như vậy có thể nói với suy nghĩ có bệnh thì vái tứ phương người bệnh đã trải qua nhiều phương pháp chữa trị ai mách gì làm đấy dẫn đến tình trạng bệnh đã không khỏi lại ngày càng phức tạp hơn.

Trong chuyên đề này người viết xin giới thiệu bài thuốc chữa bệnh trĩ bằng đông y dựa trên công thức bí truyền của đồng bào dân tộc H’Mông vùng cao Tây Bắc (do đặc thù văn hóa uống rượu nên tỉ lệ mắc trĩ vùng này cao). Bài thuốc được các chuyên gia về y học cổ truyền đánh giá cao do tính hiệu quả trong điều trị và hậu điều trị. Tên bài thuốc: Bài thuốc bí truyền đặc trị bệnh trĩ của người H’Mông Tây Bắc.

Theo đông y, việc các búi trĩ hình thành là do khí huyết ứ trệ. Nghĩa là, máu từ tim theo động mạch đi đến nuôi các mô vùng hậu môn và tiếp tục theo tĩnh mạch lại trở về tim. Nhưng vì khí huyết ứ trệ máu ở vùng hậu môn theo tĩnh mạch về không hết sẽ dồn tích lại dần dần làm tĩnh mạch căng phồng lên và mỏng đi (khi đi cầu đôi khi phân cọ sát vào tĩnh làm vỡ tĩnh mạch gây nên hiện tượng đi ngoài ra máu), và đến khi sa xuống tạo thành búi trĩ.
Bệnh trĩ nếu chỉ phẫu thuật cắt búi trĩ thì mới chỉ giải quyết được phần gọn và không sớm thì muộn, một thời gian sau bệnh trĩ sẽ lại tái phát. Ngược lại, bài thuốc bí truyền đặc trị bệnh trĩ của người H’Mông Tây Bắc lại giải quyết triệt để vấn đề này và điều trị từ nguyên nhân gây nên bệnh.
Bài thuốc bí truyền đặc trị bệnh trĩ của người H’Mông Tây Bắc

1. Thuốc uống
Thành phần: Nghệ, tam thất, địa du, đương quy, thăng ma, sài hồ và một số thảo dược ở vùng núi Tây Bắc.
Công dụng: Cầm máu, giảm đau, chống viêm, thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, hoạt huyết, hoạt trường, điều huyết, thông kinh. Giúp bảo vệ và tăng sức bền của thành tĩnh mạch, tăng cường sức khỏe tĩnh mạch và đường tiêu hóa; nhuận tràng thông đại tiện, chống táo bón.
Điều trị và giúp phòng ngừa bệnh trĩ, cải thiện các triệu chứng của bệnh trĩ (chảy máu, sa búi trĩ, đau rát, ngứa…) và các biến chứng của bệnh trĩ (sa trực tràng, viêm nứt hậu môn…); kháng viêm, kháng khuẩn mạnh; điều trị và phòng ngừa táo bón.
Bài thuốc đặc biệt tốt cho phụ nữ sau sinh, người bị bệnh đường ruột, đau dạ dày, đại tràng.
Công dụng của từng thành phần:
Nghệ: Nghệ có vị cay đắng, tính bình, có tác dụng hành khí, hoạt huyết, làm tan máu, tan ứ và giảm đau. Uất kim (củ con của cây nghệ) vị cay ngọt, tính mát, làm mát máu, an thần, tan máu ứ, giảm đau. Nghệ còn có tác dụng khử trùng, ức chế nhiều loài vi khuẩn và nấm gây bệnh trong đó có trực khuẩn lao, các trực khuẩn lỵ, phế cầu khuẩn, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn coli, nấm candida albicans. 
Ngoài ra, nghệ còn có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư, và có tác dụng làm đẹp như làm sáng da, liền sẹo…
Tam thất: Tam thất có vị ngọt, hơi đắng, tính ôn, vào Kinh, Can, Vị, Tâm, Phế, Đại tràng. Có tác dụng hoá ứ, cầm máu (chữa thổ huyết, băng huyết, rong huyết, sau đẻ máu hôi không ra hết, lỵ ra máu), tiêu thũng, giảm đau, bổ khí huyết, đau tức ngực, u bướu, huyết ứ, bế kinh, thống kinh, sản hậu huyết hư gây đau bụng, ung nhọt, sưng do chấn thương, thiếu máu nặng, mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, ngủ ít. Kinh nghiệm dân gian Tam thất có thể chữa được một số trường hợp ung thư (ung thư vú, ung thư máu…).
Địa du: Được dùng cả trong Đông y và Tây y. Tây y dùng để cầm máu, giúp sự tiêu hoá, rửa các vết loét. Đông y dùng để cầm máu trong các trường hợp: nôn ra máu, chảy máu cam, trị tiêu ra máu, kiết lỵ ra máu, rong kinh do huyết nhiệt, trĩ ra máu, bỏng do nóng…
Đương quy: Tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh. Ngoài ra, có tác dụng chữa bệnh kinh nguyệt không điều, đau bụng khi thấy kinh, người thiếu máu, tay chân đau nhức và lạnh.
Thăng ma: Tác dụng thăng khí (làm lưu thông khí huyết) chữa các chứng sa giáng (sa trĩ, sa dạ dày, dạ con, trực tràng…), nhức đầu nóng rét, đau họng, mụn lở trong miệng, tả lỵ lâu ngày, ban sởi không mọc hết, hạ nhiệt, giảm đau, chống viêm, chống co giật, giải độc.

Sài hồ:
 vị đắng, tính mát; Có tác dụng tán nhiệt giải biểu, làm thông lợi gan, giảm đau, thăng cử dương khí và cắt cơn sốt rét. Dùng cho trường hợp sốt nóng, sốt rét, cảm cúm (hàn nhiệt vãng lai), đau vùng ngực bụng, kinh nguyệt không đều, trung khí hạ hãm (các loại thoát vị, sa dạ dày, ruột, tử cung, sổ bụng), viêm gan mạn tính, sốt rét cơn.
2. Thuốc xông
Công dụng: Thuốc xông có tác dụng đào thải cặn bã, thúc đẩy thăng khí (lưu thông khí huyết) giúp máu lưu thông không bị ứ trệ ở hậu môn, cải thiện vòng tuần hoàn đưa máu đến nuôi dưỡng các mô, cơ tĩnh mạch giúp tĩnh mạch bền chặt và làm tăng tính đàn hồi của thành mạch, giúp búi trĩ co dần lên, đồng thời làm tiêu sưng giảm đau.
Ưu điểm của bài thuốc: 
● Điều trị triệt để bệnh trĩ (trị bệnh tận gốc), hiệu quả lâu dài.
● Điều trị được tất cả các dạng trĩ (nội, ngoại, hỗn hợp, trĩ vòng, rò hậu môn).
● Thời gian điều trị bệnh ngắn 15-40 ngày tùy vào tình trạng của bệnh
● Chi phí thấp
● Bệnh nhân không bị đau đớn
● Không gây ảnh hưởng đến cấu trúc hậu môn
● Bệnh nhân không bị mất máu
● An toàn nhất cho bệnh nhân, không gây nhiễm trùng, biến chứng (như phẫu thuật) và không gây phản ứng phụ.
● Với thành phần là các thảo dược tự nhiên có tính mát rất tốt cho cơ thể.
● Bài thuốc được bào chế dưới dạng bột, không phải sắc nên rất tiện lợi cho việc sử dụng.
Trên đây là những đánh giá căn bản của người viết với tư cách nghiên cứu lâu năm về thực trạng bệnh trĩ tại Việt Nam. Việc điều trị khi bị bệnh là bất khả kháng. Để tránh mắc bệnh khỏi phải mất công chạy chữa tốn kém chúng ta nên thực hiện các cách sau đây:
● Chú ý vệ sinh sạch sẽ hậu môn.
● Chế độ ăn uống nhiều chất xơ, rau quả. Tránh các chất kích thích như cà phê, nước chè, rượu, và các gia vị cay, nóng như ớt, hạt tiêu… Nếu bị táo bón nên điều trị ngay bằng cách ăn nhiều rau xanh, khoai lang, chuối… đều là những thực phẩm giúp đẩy lùi chứng táo bón.
● Uống nhiều nước.
● Tập thói quen đi ngoài đều đặn hàng ngày vào một giờ nhất định.
● Tập thót hậu môn từ 30-50 lần mỗi sáng ngủ dậy và trước khi đi ngủ.


● Vận động thể lực: nên tập thể dục và chơi các môn thể thao nhẹ như bơi lội, đi bộ…
● Không ngồi lâu một chỗ, nên vận động nhẹ nhàng.



● Điều trị các bệnh mãn tính hiện có như viêm phế quản, dãn phế quản, bệnh lỵ …

 Uống nhiều nước giúp phân mềm và dễ đại tiện. Ăn nhiều rau cải, trái cây sẽ giúp phân mềm, khối phân tăng thêm nhờ thế bệnh nhân bớt phải rặn và gián tiếp tránh được bệnh trĩ. Bệnh nhân cần vận động nhẹ nhàng để tránh tăng áp lực trong tĩnh mạch nhất là sau khi ngồi hoặc đứng lâu. Vận động cũng giúp tránh táo bón và giảm trọng lượng nếu bệnh nhân béo phì. Tránh đứng hoặc ngồi lâu.

Lương dược Phúc Long
Theo bacsibenhtri.com

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

CHỮA BỆNH TRĨ BẰNG ĐÔNG Y

Cách chữa bệnh trĩ bằng đông y. Với những vị thuốc có từ thiên nhiên và gần gũi với chúng ta, sẽ đem lại những hiệu quả trong việc chữa trị bệnh trĩ. Với mong muốn đưa lại thông tin về bệnh trĩ, Website chữa trị bệnh trĩ gửi tới bạn đọc những phương pháp các bạn có thể tham khảo để trị bệnh trĩ hiệu quả nhất.
Dưới đây là một số bài thuốc Đông y để chữa trị bệnh trĩ này:
1. Thuốc xông, rửa tại chỗ
Theo kinh nghiệm dân gian dùng một trong những phương sau:
- Nhân hạt gấc (mộc miết tử) 40g, giã nát trộn với một ít giấm thanh rồi bọc vào vải đắp vào nơi búi trĩ.
- Diếp cá 50g sắc đặc uống ngày 2 lần, bã còn lại dùng đắp vào búi trĩ.
- Hòe hoa 20g, kinh giới 40g, chỉ xác 20g, ngải cứu 40g, phèn chua 12g. Cho vào nồi dùng lá chuối bọc kín, đem đun sôi độ 10 phút, chọc một lỗ thủng xông trực tiếp vào chỗ trĩ. Khi nguội dùng nước đó ngâm rửa, ngày hai lần.
Hoa hòe, hoa hòe bài thuốc đông y, tri benh tri

2. Thuốc uống

  • Trường hợp trĩ nội xuất huyết có khi thành giọt, màu đỏ sắc tươi, họng khô, miệng khát do nhiệt ủng, huyết ứ phải hành huyết, tán ứ, lương huyết, chỉ huyết.


Bài 1: Nụ hòe 50g, tam lăng 40g, chỉ thực 40g, tam thất 10g, thiến thảo 40g. Sắc uống ngày một thang chia làm 3 lần.

Bài 2: Sinh địa 12g, bạch thược 12g, trắc bá diệp 12g, hắc chi ma 12g, đương quy 8g, xuyên khung 8g, hòe hoa 8g, đào nhân 8g, chỉ xác 9g, đại hoàng 4g. Sắc uống ngày một thang.


  • Trường hợp trĩ ngoại bị viêm nhiễm do thấp nhiệt, hậu môn sưng đỏ, đau, táo bón, nước tiểu đỏ, phải thanh nhiệt, lợi thấp, hoạt huyết, giảm đau.

Bài 1: Hoàng liên 12g, hoàng bá 12g, xích thược 12g, trạch tả 12g, sinh địa 16g, đào nhân 8g, đương quy 8g, đại hoàng 8g. Sắc uống ngày một thang.
Bài 2: Hòe hoa 12g, trắc bá diệp 12g, địa du 12g, chi tử sao đen 12g, kinh giới sao đen 16g, kim ngân hoa 16g, chỉ xác 8g, xích thược 8g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang chia 2 lần.

  • Nếu đại tiện khó, phân có máu không tươi, ngực bụng trướng đầy: Hoàng liên 10g, trần bì 30g, sơn tra 10g, khương truật 10g, bạch đầu ông 20g, hoàng bá 15g, thần khúc 10g, mộc hương 10g, mã sĩ liên 30g, trần bì 10g, ô mai 15g, mạch nha 10g. Sắc uống ngày 1 thang.



  • Nếu trĩ sa ra ngoài, lưng đau, người bệnh phiền táo không yên, có thể dùng: Tử hoa địa đinh 8g, cúc hoa 8g, kim ngân hoa 12g, xích thược 12g, bán chi liên 10g, thảo hà sa 10g, bồ công anh 12g, cam thảo sống 6g. Sắc uống ngày 1 thang.


3. Thuốc ngâm bôi
Sử dụng thuốc ngâm bôi tốt với trường hợp sau khi đại tiện trĩ bị lòi ra ngoài hậu môn.
Bài 1: Hoàng bá 20g, lá móng 20g, tô mộc 30g, binh lang 10g, sa sàng 20g.
Bài 2: Sa sàng 20g, ngũ bội 20g, tô mộc 30g, hoàng bá 20g, binh lang 10g.
Ngày đun 1 thang. Cách làm: cho 6-7 bát nước (1-2 lít nước) đun sôi liên tục 10-15 phút chắt ra chậu sạch. Sau mỗi lần đại tiện xong rửa sạch hậu môn rồi ngồi ngâm 10-15 phút.
Lấy tay ấn búi trĩ lên, sau đó nằm nghỉ 10-15 phút rồi mới đi lại.

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

CHỮA BỆNH TRĨ BẰNG PHƯƠNG PHÁP ULTROID

Điều trị bệnh trĩ bằng phương pháp dùng dòng điện ULTROID hay còn gọi là phương pháp điều trị trĩ bằng hệ thống ULTROID (gọi tắt là phương pháp ULTROID). Phương pháp này điều trị có hiệu quả được áp dụng tại Việt Nam từ năm 1995.

ULTROID SYSTEM: là một thủ thuật dùng máy phát với điện cực tác động vào gốc búi trĩ, làm búi trĩ teo đi do mất nguồn máu nuôi dưỡng.

chua benh tri bang phuong phap ultroid
Chữa bệnh trĩ bằng phương pháp ULTROID
Nguyên lý hoạt động: dùng một dòng vi điện (nhờ máy phát điện ULTROID) tạo nên một phản ứng hóa học tác động trong mô trĩ làm giảm hoặc giới hạn sự phồng to của búi trĩ.

Ưu điểm:

- Không phẫu thuật

- Không gây mê

- Không đau, bệnh nhân trở lại trạng thái bình thường sau thời gian ngắn hoặc ngay khi làm xong thủ thuật

- Thực hiện nhanh, dễ dàng và có thể làm ngay tại phòng khám

Nhược điểm:
Là phương pháp tốt đối với trĩ độ I, độ II nhẹ, nhưng không có hiệu quả với trĩ ngoại, trĩ nội độ II nặng, độ III, độ IV, trĩ hỗn hợp và trĩ vòng.


Chống chỉ định

Khuyến cáo không dùng Hệ thống xử lý Trĩ Ultroid ® cho các đối tượng bệnh nhân sau:
+ Có thai
+ Có các thiết bị cấy ghép (máy tạo nhịp/máy phá rung)
+ Có các rối loạn về đông máu
+ Đang có nhiễm trùng tại chỗ
+ Bệnh nhân đang bị viêm loét đại tràng (ví dụ bệnh Crohn v.v.)
+ Các bệnh nhân đang được cấy ghép cơ quan bộ phận ở vùng hạ vị

Thứ Ba, 25 tháng 6, 2013

CHỮA BỆNH TRĨ BẰNG CÂY LÁ BỎNG

Bệnh trĩ là bệnh xuất hiện từ hàng nghìn năm trước, Y học cổ truyền đã có những bài thuốc được đúc kết qua hàng ngàn năm điều trị bệnh trĩ. Cây lá bỏng là một trong những loại cây được sử dụng trong bài thuốc có tác dụng chữa bệnh trĩ.

Cây lá bỏng còn gọi là cây sống đời, cây trường sinh, cây lạc địa sinh căn… Theo Đông y, cây lá bỏng có vị nhạt, hơi chua, tính mát, không độc, có tác dụng tiêu viêm, giảm đau, tiêu độc, giúp vết thương chóng lên da non...

Chua benh tri bang cay la bong
Chữa bệnh trĩ bằng cây lá bỏng (cây sống đời)



Trị chứng đi lỵ: Dùng 40g lá của cây bỏng, 16g cam thảo đất, 20g cỏ seo gà, 20g lá mơ lông. Rửa sạch sắc uống ngày 1 thang.

Trị chứng trĩ: Dùng 6g lá bỏng, 6g rau sam. Rửa sạch nhai sống hoặc sắc uống. Nếu bị lòi dom và lở hậu môn thì nấu nước bồ kết ngâm rửa hậu môn và giã lá sống đời đắp vào búi trĩ.

Trị chứng đại tiện ra máu: Lấy 30g lá bỏng, 10g cỏ nhọ nồi, 10g ngải cứu (sao cháy), 10g lá trắc bá (sao cháy) sắc lấy nước uống ngày 1 thang.

Chữa mụn nhọt khi chưa có mủ: Lấy 30g lá bỏng, 15g lá đại, 20g lá táo. Rửa sạch, giã nát đắp vào mụn ngày 1 - 2 lần.

Trị chứng viêm họng: Lấy 10 lá sống đời rửa sạch, chia nhai sang 4 lá, chiều 4 lá, tối 2 lá. Nhai kỹ, ngậm một lúc rồi nuốt cả bã, dùng khoảng 3 - 5 ngày sẽ có kết quả.

Trị chứng viêm xoang mũi: Lấy 2 lá sống đời rửa sạch, giã nát, lấy bông thấm nước thuốc nút vào lỗ mũi.

Trị chứng viêm loét dạ dày, viêm ruột, trĩ nội, đi ngoài ra máu: Lấy 50g lá bỏng rửa sạch, giã kỹ lấy nước uống, hoặc sắc uống. Hoặc ăn sống lá sống đời mỗi ngày 40g cũng cho kết quả tốt.

Giải rượu: Khi bị say rượu dùng 10 lá bỏng rửa sạch, nhai sống rất hiệu nghiệm.

Trị chứng phong ngứa không rõ nguyên nhân: Lấy lá bỏng, lá bồ hòn, lá ké, lá răm nấu nước xông và tắm. Hoặc các vị trên thêm lá ké đầu ngựa sắc uống.

BS Nguyễn Thị Thêu

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013

ĐIỀU TRỊ BỆNH TRĨ BẰNG QUANG ĐÔNG HỒNG NGOẠI

Điều trị bệnh trĩ bằng quang đông hồng ngoại là một trong những phương thức sử dụng nhiệt điều trị trĩ đã được thực hiện hàng trăm năm nay.

Mục tiêu của phương pháp làm đông là làm cho mô bị đông lại bởi tác động của sức nóng, tạo nên sẹo xơ làm giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và cố định trĩ vào ống hậu môn. Với tia Laser, dòng điện cao tần cũng có tác động làm đông như tia hồng ngoại, nhưng sự chính xác về độ sâu xuyên thấu của tác động làm đông của 2 phương pháp này không chính xác bằng tia hồng ngoại với máy quang đông. Sự xuyên thấu mô của tia hồng ngoại được định trước bằng cách điều chỉnh tốc độ của tia và độ hội tụ chính xác trên lớp mô này.

Điều trị bệnh trĩ bằng quang đông hồng ngoại

Máy quang đông hồng ngoại có lợi là không gây nhiễu các dụng cụ điện tử gắn trên người bệnh như máy điều hòa nhịp tim.

Quang đông hồng ngoại được chỉ định với trĩ nội độ 1 và độ 2. Phương pháp này có ưu điểm là không đau, an toàn, cầm máu rất hiệu quả nhưng có nhược điểm là máy khá đắt và thường phải làm thủ thuật nhiều lần và nguy cơ tái phát bệnh trĩ cao.

Thứ Năm, 20 tháng 6, 2013

THẮT TRĨ BẰNG DÂY THUN - VÒNG CAO SU

Thắt trĩ bằng dây thun (hay vòng cao su) là một thủ thuật đơn giản, hiệu quả, an toàn và nhanh chóng, thắt trĩ bằng dây thun thường được sử dụng tại BV với mục đích góp phần đầy lùi chứng bệnh gây rất nhiều phiền toái này.

Thắt trĩ bằng dây thun (vòng cao su)

A- Tổng Quan về Điều Trị 

Nguyên lý thắt trĩ bằng dây thun đã có từ thời cổ đại. Vào năm 460 trước Công nguyên, Hippocrates đã mô tả phương pháp thắt một sợi chỉ chung quanh búi trĩ để làm cho nó teo lại.

Vào thế kỷ thứ 19, thủ thuật thắt trĩ bằng dây thun được dùng thường xuyên hơn. Tuy nhiên, vào thời điểm ấy, kỹ thuật này bao gồm cột cả búi trĩ lần phần mô nhạy cảm chung quanh nên gây đau đớn nhiều, và nhanh chóng bị loại bỏ.

Vào năm 1958, Blaisdell gợi ý chỉ nên thắt mô trĩ thôi và thủ thuật trở nên ít đau hơn nhiều. Kỹ thuật thắt trĩ hiện đại được tiên phong bởi Barron vào năm 1963 khi ông sử dụng một dụng cụ đặc biệt để thắt búi trĩ với độ chính xác cao. Để vinh danh ông, kỹ thuật này được gọi là phương pháp thắt trĩ Barron và dụng cụ thắt dược gọi là dụng cụ Barron.

Thắt trĩ bằng dây thun là thủ thuật thắt đáy búi trĩ bằng một sợi dây thun, ngăn chặn hoàn toàn dòng máu đến búi trĩ. Để thực hiện thủ thuật này, thầy thuốc sẽ đút một ống nội soi (anoscope hoặc proctoscope) được làm ấm và bôi trơn vào hậu môn của bệnh nhân. Búi trĩ sẽ được giữ chặt bằng kẹp, một dụng cụ sẽ siết dây thun vào đáy của búi trĩ. Trĩ sẽ teo lại, hoại tử, và rụng trong vòng một tuần.

Sẹo hình thành ở vị trí búi trĩ, giữ cho các tĩnh mạch kề cận không phình vào ống hậu môn. Thầy thuốc sẽ hỏi bệnh nhân xem có cảm thấy vòng cao su quá chặt? Nếu đau nhiều, bác sĩ sẽ tiêm thuốc gây tê tại vị trí đã thắt trĩ. Tuy nhiên, nếu đau nhói nhiều sau khi thắt trĩ, có thể đã thắt nhầm vào vùng mô dưới đường lược (dentate line) hoặc thắt quá nhiều phần mô và da nhạy cảm. Cần phải cắt bỏ dây thun và thắt lại.

Sau thủ thuật, bệnh nhân có thể cảm thấy đau và đầy ở vùng bụng dưới, hoặc có cảm giác mót đi tiêu.

Thường thì chỉ thắt mỗi lần từ 1 đến 2 búi trĩ. Nếu bệnh nhân được vô cảm toàn thân, có thể xử lý cùng một lúc nhiều búi trĩ hơn. Các búi còn lại sẽ được thắt sau thời gian từ 4 đến 6 tuần.

B- Tình hình sau khi thắt trĩ 

Bệnh nhân phản ứng không giống nhau sau khi thắt trĩ. Một số có thể trở về với công việc bình thường ngay (ngoại trừ việc mang vác nặng), số khác cần phải nghỉ tại giường từ 2 đến 3 ngày.

+ Bệnh nhân thường cảm thấy đau trong thời gian từ 24 đến 48 giờ sau thắt trĩ. Có thể dùng thuốc hoặc ngồi trong chậu nước ấm pha thuốc tím ngày 2-3 lần, mỗi lần 15 phút để giảm đau.

+ Để giảm nguy cơ chảy máu, nên tránh dùng các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs), các thuốc aspirin, coumadin, warfarin v.v...trong thời gian từ 4 đến 5 ngày trước và sau khi thắt trĩ.

+ Có thể xuất huyết trong khoảng từ 7 đến 10 ngày sau khi thắt, lúc trĩ rụng. Xuất huyết thường nhẹ và tự cầm.

Bệnh nhân nên ăn nhiều chất xơ để làm mềm phân và uống thêm nước để dễ đi tiêu. Rặn nhiều khi đi tiêu có thể khiến trĩ tái phát.

C- Chỉ định thắt trĩ

- Thắt trĩ bằng dây thun là thủ thuật được dùng rộng rãi để điều trị trĩ nội. Nếu các triệu chứng vẫn tồn tại sau 3 đến 4 lần thắt trĩ, cần đặt vấn đề điều trị phẫu thuật.

- Không được dùng phương pháp thắt trĩ nếu không đủ mô để kéo vào lòng dụng cụ thắt trĩ.

- Thủ thuật thắt trĩ không được áp dụng để điều trị trĩ độ 4.

Dụng cụ thắt trĩ

Thắt trĩ bằng vòng cao su
D- Kết Quả

Khoảng 80% bệnh nhân cho biết có cải thiện triệu chứng sau khi thắt trĩ.

+ Thắt trĩ bằng dây thun cải thiện triệu chứng nhanh chóng và kéo dài hơn so với phương pháp chích xơ (injection sclerotherapy) hoặc quang đông bằng tia hồng ngoại (infrared photocoagulation therapy).

+ Hiếm khi phải điều trị lại do triệu chứng tái phát.

+ Thủ thuật này hiệu quả nhất đối với các búi trĩ nội có kích thước từ nhỏ đến trung bình.

+ Thủ thuật này ít thành công khi thực hiện trên các búi trĩ lớn.

E- Nguy Cơ

Tác dụng phụ rất hiếm gặp, có thể bao gồm:

+ Đau nhiều không đáp ứng với các biện pháp giảm đau thường dùng sau khi thắt trĩ. Có thể do thắt búi trĩ quá sát với vùng chứa nhiều thụ thể cảm nhận đau trong ống hậu môn

+ Chảy máu hậu môn.

+ Bí tiểu.

+ Nhiễm trùng ở vùng hậu môn, vùng chậu, tuy hiếm gặp nhưng có thể diễn biến nhanh và nặng dẫn đến nhiễm trùng huyết. Cần khẩn trương điều trị bằng kháng sinh.

+ Tuột dây thun do kẹp được quá ít mô trĩ, cần phải thắt lại

+ Cục máu đông xảy ra ở 5% bệnh nhân, cần phẫu thuật cắt bỏ

+ Nứt hậu môn: xảy ra ở 1% trường hợp do nứt búi trĩ. Điều trị bằng kháng sinh, giảm đau hoặc phẫu thuật.

F- Kết Luận

- Thắt trĩ bằng dây thun là một trong những phương pháp điều trị ít tốn kém và khá hiệu quả.

- Phẫu thuật cắt trĩ (hemorrhoidectomy) có thể đem lại kết quả tốt và lâu dài hơn thắt trĩ. Tuy nhiên, phẫu thuật thường tốn kém hơn, có thời gian phục hồi lâu hơn và nguy cơ biến chứng cũng cao hơn.

- Về lâu dài, thắt trĩ bằng dây thun được đánh giá là phương pháp điều trị không- phẫu thuật hiệu quả nhất đối với trĩ nội.

Thắt trĩ bằng dây thun là phương pháp tốt cho trĩ độ I và trĩ độ II. Phương pháp này không được áp dụng cho trĩ ngoại.